0979 743 307

Áo Bà Bà và sự kết nối và giữ gìn bản sắc Văn Hoá

Nhiều câu chuyện về chiếc áo bà ba đã được các diễn giả chia sẻ qua nhiều góc nhìn của mỗi thế hệ với những cảm xúc khác nhau, nhưng những người dự khán buổi giao lưu vẫn cảm nhận được rằng dù xã hội đang ngày càng phát triển theo hướng hiện đại thì chiếc áo mộc mạc này vẫn luôn được gìn giữ, nâng niu để có thể gắn kết giữa quá khứ với hiện tại, truyền thống và thời trang, để được lưu giữ như một di sản văn hóa cho muôn đời sau.

Vẻ đẹp tự thân và vĩnh cửu

Mở đầu buổi giao lưu, nhà nghiên cứu văn hóa HUỲNH NGỌC TRẢNG – “bảo chứng” cho những công trình nghiên cứu lịch sử văn hóa nghệ thuật Nam bộ, vẫn đầy nhiệt huyết cho rằng ngay từ khi mới xuất hiện, chiếc áo bà ba, tự thân nó đã mang một vẻ đẹp vĩnh cửu.

Theo ông, văn hóa Nam bộ đã hình thành và phát triển cùng với vùng đất này từ hơn 300 năm qua. Các thực thể văn hóa luôn biến thiên khi xã hội tiếp nhận một nền văn hóa mới, để làm cho cuộc sống phong phú hơn. Nhưng cũng có những thực thể văn hóa được điều chỉnh, được biến đổi để thích ứng, để phù hợp với xu thế mới. “Cuối thế kỷ 19, cộng đồng người Hoa lai Malaysia (còn gọi là cộng đồng người bà ba) di cư đến Nam kỳ để sinh sống, làm nghề xây dựng và buôn bán lúa gạo. Họ mang theo loại trang phục giản dị, phù hợp với công việc của mình đến vùng đất mới và lạ thay nó cũng phù hợp với cộng đồng người Việt. Chiếc áo đó, với vẻ đẹp dung dị của nó đã tồn tại và được lưu truyền đến tận hôm nay – chiếc áo bà ba”, ông nói.

Tiến sĩ NGUYỄN NAM, giảng viên trường Đại học Fulbright Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóa Đông Á, cho rằng chiếc áo bà ba dù xuất hiện từ bao giờ và xuất xứ từ đâu thì đến nay nó vẫn đang tồn tại và là “sản phẩm” của chính người Việt. Chiếc áo rất đơn sơ và mộc mạc nhưng khi được khoác lên mình, nó sẽ làm tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ.

“Người phụ nữ trong trang phục bà ba, lộ ra chiếc cần cổ cao cao, thanh tú, vừa kín đáo vừa gợi cảm. Đẹp vô cùng!”, tiến sĩ Nguyễn Nam nói và khẳng định chiếc áo bà ba là “duy nhất”, là “thuộc về” người dân và nền văn hóa Nam bộ.

Nhà văn XUÂN PHƯỢNG đồng tình với nhận định của tiến sĩ Nguyễn Nam. Bà kể, năm 1972 nữ minh tinh Hollywood Jane Fonda sang thăm Việt Nam để ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa, giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Lúc đó, nhà văn được giao nhiệm vụ tư vấn trang phục cho ngôi sao Hollywood. Jane Fonda vốn không muốn có khoảng cách – kể cả khoảng cách trong trang phục với những nơi bà sẽ đến, với những người bà sẽ tiếp xúc. Nhà văn đã đưa nữ minh tinh đi may 3-4 bộ áo bà ba. Jane Fonda rất thích. Suốt thời gian ở Việt Nam, bà luôn “diện” áo bà ba để đi thăm quân dân ở các chiến trường, tiếp xúc với báo chí quốc tế, cũng như gặp gỡ các nhà lãnh đạo Việt Nam. “Là phụ nữ ngoại quốc nhưng khi khoác lên mình chiếc áo bà ba, Jane Fonda trông thật quyến rũ và gần gũi”, nhà văn hồi tưởng.

Còn với vùng đất Nam bộ, khi nhìn thấy những người con gái trong chiếc áo bà ba duyên dáng, bà ví von: “Đẹp như những cánh bướm đầy sắc màu, đem lại sự bình an cho vùng sông nước hiền hòa này”.

Là học sinh miền Nam, học tập và làm việc ở miền Bắc, NSND TRÀ GIANG ít có cơ hội tiếp cận với chiếc áo bà ba nhưng chiếc áo ấy luôn tồn tại trong sâu thẳm tâm trí bà qua chính hình ảnh người mẹ của mình. Bà tâm sự: “Mẹ tôi suốt một đời chỉ mặc áo bà ba. Hôm nay tôi lại được trở về với miền ký ức ấy và cảm nhận rõ ràng hơn vẻ đẹp mộc mạc của nó”.

Bà kể, khi được chọn vào vai chị Tư Hậu trong bộ phim điện ảnh cùng tên của đạo diễn Phạm Kỳ Nam, suốt sáu tháng làm phim bà luôn mặc áo bà ba. Có thể nói, bà là người đầu tiên đưa chiếc áo bà ba từ đời thường lên màn bạc, và cùng với bộ phim “Chị Tư Hậu” áo bà ba đã ra với thế giới. Đến sau này, khi tham gia “Huyền thoại người mẹ”, “Dòng sông hoa trắng” hay “Vĩ tuyến 17 – Ngày và đêm” – bộ phim giúp bà đoạt giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan Phim quốc tế Moscow năm 1973, hình ảnh và tên tuổi của NSND Trà Giang luôn gắn liền với chiếc áo bà ba.

“Trên phim ảnh và cả trong cuộc sống, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam luôn đẹp giản dị. Với chiếc áo bà ba, họ kiên cường trước quân thù mà lại hiền hậu trong đời thường”, NSND thổ lộ.

Thạc sĩ LÊ MINH TIẾN, giảng viên trường Đại học Mở TPHCM, trong lần thứ hai được mặc áo bà bà ba thì lại nhớ về người bà của mình. Anh được người dẫn chuyện trong buổi giao lưu, chuyên gia truyền thông-nhà báo Vũ Mạnh Cường ví như “người nổi loạn” khi anh kể lại câu chuyện mình đã từng “dám” mặc chiếc áo bà ba của bà nội để đến trường trong một buổi học phụ đạo cho kỳ thi cuối cấp.

Theo thạc sĩ Lê Minh Tiến, có những thứ thuộc về văn hóa luôn bất biến vì nó là cái tạo nên hồn cốt, căn tính, bản sắc của một nền văn hóa. “Chiếc áo bà ba là một trong những thứ tạo nên vẻ đẹp, tạo nên hồn cốt văn hóa của Việt Nam nói chung và Nam bộ nói riêng, xác định ranh giới văn hóa quốc gia với các nền văn hóa khác, không bao giờ thay đổi”, thạc sĩ Lê Minh Tiến nói.

Văn hóa “nhân hậu” là động lực để phát triển kinh tế “có hậu” và bền vững

Tiến sĩ BÙI CHÍ TRUNG, người có gần 55 năm sinh sống và làm việc ở đất nước mặt trời mọc, hiện là Giáo sư Đại học Aichi Shukutoku, Nhật Bản nhấn mạnh sự gắn kết và tầm quan trọng giữa phát triển kinh tế và giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa của một quốc gia nói chung, một tỉnh thành nói riêng.

“Mỗi làng quê mỗi sản phẩm” (One Commune One Product-OCOP) là một khái niệm cần được nghiên cứu. Và ông cho rằng, Hậu Giang với Festival Áo Bà Ba sắp diễn ra vào cuối tháng 9-2023 có thể xem xét OCOP như là một cơ hội để tạo ra thương hiệu riêng cho Hậu Giang: sử dụng sợi lá khóm để dệt vải may áo bà ba, biến chiếc áo này thành một “Fashion Products”, như Philippines đã từng có loại áo quốc phục (Baron Tagalog) dệt bằng sợi lá dứa cùng với sợi gai, sợi tơ rất nổi tiếng, thông dụng và đắt tiền; hoặc như ở Okinawa (miền nam Nhật Bản) có truyền thống dệt áo Kimono bằng sợi lá chuối, được bán với giá 2.000-3.000 đô la Mỹ/chiếc…

“Tuy nhiên, OCOP ở đây phải là sản phẩm tốt nhất (The Best One), không nơi nào có được. Khóm Hậu Giang phải là khóm ngon nhất và áo bà ba được may từ vải sợi lá khóm phải là áo bà ba đẹp nhất, tốt nhất. Có như vậy chúng ta mới có thể vừa phát triển kinh tế vừa quảng bá chiếc áo bà ba ra thị trường thế giới”, tiến sĩ Bùi Chí Trung nói. “Hy vọng Hậu Giang không chỉ là dòng sông ở phía sau, mà trong tương lai Hậu Giang sẽ là vùng đất phúc hậu, con người nhân hậu và cuộc sống có hậu”.

Tiến sĩ ETHAN C. BROWN, giảng viên trường Đại học Fulbright Việt Nam, tâm sự: “Mỗi lần tìm hiểu về văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc của Việt Nam, tôi luôn ngạc nhiên và tràn đầy cảm hứng tính cực vì tính sáng tạo, tính cộng hưởng và sự giao thoa của nó”.

Là một người Mỹ gốc Anh, tiến sĩ Ethan C. Brown cho rằng: “Tổ tiên chúng tôi cũng đã từng có những truyền thống, những giá trị văn hóa đặc trưng. Nhưng nhiều giá trị văn hóa lâu đời đó đã dần biến mất. Tôi cảm thấy buồn vì đó là những mất mát lớn và rất lo lắng không biết phải làm gì để khôi phục những giá trị đó”.

Tại buổi giao lưu, tiến sĩ Ethan C. Brown, trong trang phục áo bà ba tím do nhà thiết kế Minh Hạnh thiết kế, đã đan xen nhiều cảm xúc – xúc động, hân hoan và một chút trầm tư để gửi lời nhắn nhủ: “Chiếc áo bà ba mà chúng ta đang mặc không phải là đại diện cho một bộ trang phục lỗi thời mà nó là chiếc áo đã được tái sinh (reborn) với sự khéo léo và trí tuệ của nhà thiết kế. Nhờ đó, trang phục truyền thống được giữ gìn và xuất hiện trong diện mạo mới, hiện đại hơn. Sự tái sinh còn có ý nghĩa của sự đổi mới, sáng tạo và tính hiện đại”.

Dù mới đến Việt Nam ba tháng, tiến sĩ Ethan C. Brown cũng muốn nhắn nhủ đến các bạn sinh viên tham dự buổi giao lưu: “Để không bị mất gốc văn hóa bản địa thì sự kết nối là điều đáng quý. Giao lưu, lễ hội… chính là sự kết nối giữa thế hệ hiện tại với ông bà, tổ tiên để nhắc nhở chúng ta phải yêu thương, duy trì, giữ gìn những giá trị bản sắc văn hóa tốt của một dân tộc”.

Không chỉ thừa nhận vẻ đẹp của chiếc áo bà ba, doanh nhân trẻ toàn cầu HUY NGUYỄN còn đau đáu nỗi niềm làm sao để truyền tải những giá trị văn hóa của người Việt đến những thế hệ sau của kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài. “Trong thời đại thế giới phẳng, công nghệ 4.0 thì dòng chảy văn hóa đang có xu hướng chảy ngược về Việt Nam. Giới trẻ trong nước tiếp cận với văn hóa nước ngoài đôi khi còn nhiều hơn tiếp cận văn hóa của chính đất nước mình. Điều đó khiến tôi luôn trăn trở”, anh tâm sự.

Là người hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, Huy Nguyễn có niềm tin mãnh liệt rằng công nghệ là cánh cửa có thể giúp chúng ta đi tắt, đón đầu để quảng bá văn hóa Việt Nam ra cùng thế giới. “Toàn cầu hóa đã và đang dần gắn kết toàn thế giới lại gần nhau hơn, do đó các sản phẩm vật lý hữu hình (sản phẩm offline) cần được hỗ trợ đưa lên thế giới số (sản phẩm online) và ngược lại để tạo ra nhiều giá trị hơn. Tôi cùng các cộng sự đã và đang phát triển các giải pháp công nghệ, làm cầu nối để các sản phẩm vật lý xuất hiện trên thế giới số, là cách tiếp cận và quảng bá toàn cầu cho sản phẩm Việt Nam, trong đó có chiếc áo bà ba”, Huy Nguyễn cho biết.

Trong khi đó, tiến sĩ VŨ KHÁNH VY, cô gái Hậu Giang có hơn mười năm sinh sống và làm việc ở Mỹ nhưng vẫn luôn tự hào khi mặc những trang phục truyền thống của Việt Nam, luôn có ý thức giữ gìn và quảng bá văn hóa Việt Nam ra toàn thế giới mỗi đi dự các sự kiện chuyên ngành hoặc công tác đến một quốc gia hay một vùng đất mới.

Là tiến sĩ chuyên ngành Dược lý-Dược lâm sàng, Khánh Vy có nhiều trăn trở cho cây khóm Hậu Giang. “Những sản phẩm nông sản của Hậu Giang rất có giá trị, nếu được phát huy sẽ có rất nhiều tiềm năng. Đặc biệt là với trái khóm, tôi đang ấp ủ một dự án về y dược học cho loại trái cây đặc sản này của Hậu Giang”, tiến sĩ Khánh Vy tiết lộ.

Nhà thiết kế MINH HẠNH cho rằng: “Quá khứ đáng trân trọng của chiếc áo bà ba là nền tảng để chúng ta có thể bước tiếp trong hiện tại và tương lai. Và với góc nhìn của một nhà thiết kế, tôi cho rằng áo bà ba đủ điều kiện để trở thành một chiếc áo thời trang bởi tính đơn giản, sự thanh lịch và khả năng thích ứng với thời đại cũng vì tính mạnh mẽ của nó. Chiếc áo bà ba còn có một sức sống rất mãnh liệt. Nhiều bạn trẻ, các nhà thiết kế thời trang đã có những ý tưởng rất sáng tạo để tạo ra những giá trị mới cho chiếc áo bình dị này”.

Theo nhà thiết kế Minh Hạnh, làm thế nào để phát triển trang phục truyền thống không phải là câu chuyện đi tìm danh xưng để thành di sản văn hóa phi vật thể mà là cụ thể hóa việc nâng cao đời sống của người dân, tạo công ăn việc cho làm người dân địa phương… Câu chuyện này, muốn làm được cần phải có những con người tâm huyết, có kiến thức và nền tảng văn hóa cao, sẵn sàng cống hiến cuộc đời mình vì những giá trị của bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc.

Người dẫn chuyện, chuyên gia truyền thông-nhà báo VŨ MẠNH CƯỜNG đúc kết: “Buổi giao lưu thật sự đã truyền cho tất cả chúng ta một tình yêu lớn lao dành cho chiếc áo bà ba và mảnh đất Hậu Giang hiền hòa này. Nhiều người trong mười vị diễn giả đã phải bỏ dở công việc của mình ở nước ngoài, hay tạm hoãn những chuyến công tác để tham dự buổi giao lưu hôm nay. Vì thế, những tâm tư, tình cảm cũng như những đề xuất đầy tâm huyết của các vị thật đáng trân trọng, để chiếc áo bà ba mãi vẫn trong tâm trí của mọi người Việt và được quảng bá rộng rãi hơn với các nền văn hóa của thế giới”.

Cre: Kinh tế Sài Gòn online

Giá trị tản sắc của áo dài Việt Nam

Áo dài được xem là biểu tượng văn hóa gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam. Trải qua nhiều thời gian thăng trầm và phát triển, chiếc áo dài Việt Nam không ngừng thay đổi nhưng vẫn giữ được nét truyền thống. Khơi dậy niềm tự hào và góp phần tôn lên vẻ đẹp thanh lịch, dịu dàng của người phụ nữ Việt Nam.

Khi nói đến trang phục truyền thống của người Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến “Áo dài”. Trải qua từng thời kỳ, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quá trình phát triển lịch sử, tà áo dài Việt Nam vẫn tồn tại cùng với thời gian, được xem là trang phục truyền thống, là một biểu tượng trong văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Cách đây hơn 1000 năm, khi Hai Bà Trưng cưỡi voi đeo lọng, hình ảnh áo dài Việt Nam đã xuất hiện trong đời sống người Việt hay xuất hiện trên các trống đồng Ngọc Lũ, Hòa Bình, Hoàng Hạ và thạp đồng Đào Thịnh. Nói chung, tà áo dài Việt đã đi cùng những năm tháng hào hùng của dân tộc, trở thành niềm tự hào, biểu tượng của người Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận. Theo từng thời kỳ cùng với những diễn biến của tiến trình lịch sử Việt Nam, tà áo dài vẫn luôn trường tồn theo dòng thời gian. Đây vẫn là trang phục truyền thống mang đậm dấu ấn lịch sử lâu đời của Việt Nam ngàn năm văn hiến.   

Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ

Chiếc áo dài Việt Nam tượng trưng cho sự thuần khiết, bên trong chiếc áo dài tưởng như đơn giản nhưng lại chứa đựng rất nhiều ý nghĩa. Tà áo dài truyền thống được người Việt Nam bảo tồn qua nhiều thời kì, trân trọng để truyền lại cho thế hệ mai sau. Áo dài cũng là minh chứng cho sự thay đổi của Việt Nam, trường tồn với thời gian, trở thành quốc phục của đất nước Đã từ lâu, áo dài là một biểu tượng văn hóa gắn liền với hình tượng phụ nữ Việt Nam. Qua nhiều thời kỳ phát triển, tà áo dài không ngừng biến đổi nhưng vẫn đảm bảo tính truyền thống, góp phần tôn lên vẻ đẹp thanh lịch, dịu dàng của những người phụ nữ Việt. Áo dài là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam bởi chứa đựng trong đó là những tinh hoa, tâm hồn, tính cách của người Việt Nam. Dẫu trải qua nhiều thăng trầm nhưng đến nay, chiếc áo dài vẫn giữ nguyên giá trị trong đời sống văn hóa và tinh thần trong xã hội Việt Nam.

*Áo dài Việt Nam tôn vinh nét đẹp người phụ nữ   

Nếu như người Nhật tự hào về kimono, người Hàn nổi tiếng với hanbok thì người Việt luôn được biết đến với tà áo dài duyên dáng và thướt tha. Chiếc áo dài Việt Nam tổng thể là một bộ trang phục phô mà vẫn kín, đầy tự do, phóng khoáng. Tuy vậy nhưng vẫn đảm bảo sự sang trọng, thanh lịch, trang nhã, cần thiết. Vì vậy, áo dài dễ dàng được phổ biến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, có thể sử dụng trong nhiều không gian, thời gian và sự kiện khác nhau.    

*Trang phục áo dài – hơi thở của nền văn hóa Việt    

Trải qua các thời kỳ lịch sử, văn hóa, ngày nay chiếc áo dài Việt Nam vẫn là trang phục truyền thống trong các dịp lễ trọng của gia đình, dòng tộc, cộng đồng hay trong các dịp lễ tết của đất nước. Áo dài được các bạn nữ mặc ngày càng nhiều trong các trường học, công sở, doanh nghiệp. Trong các sự kiện trọng đại của đất nước, trên các diễn đàn quốc tế thể hiện sự trang trọng, thanh lịch của người phụ nữ Việt Nam.    

Đồng thời, áo dài góp phần tôn vinh nếp sống văn hóa của người Việt Nam, đó là tinh thần đoàn kết. Áo dài không chỉ đẹp mà còn mang nhiều ý nghĩa, bởi ngày nay các gia đình Việt Nam rất coi trọng sợi dây yêu thương. Áo dài là sợi dây gắn kết đặc biệt trong gia đình, nhất là những dịp sum họp gia đình.    

Ý nghĩa của chiếc áo dài trong tâm trí người Việt nó như là ngôn ngữ Việt vậy: sâu, đậm, thân thuộc và đầy hãnh diện. Dù đã trải qua biết bao giai đoạn, bao thăng trầm của chiều dài lịch sử, chiếc áo dài không những là chưa bao giờ mất đi vị trí độc tôn trong lòng người Việt mà nó ngày càng mang lại sự tự hào vì nó không chỉ là trang phục mà nó còn là tác phẩm nghệ thuật. 

Áo dài là một trong những hạt nhân quan trọng của văn hóa Việt, nó gói trọn ý nghĩa nhân sinh quan, tinh thần dân tộc Việt. Áo dài được sử dụng bởi mọi lứa tuổi, ở mọi nơi, là quốc phục của Việt Nam. Dù ngày nay áo dài không được sử dụng thường xuyên như trước nhưng nó luôn là lựa chọn hàng đầu của người Việt vào những dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, lễ cưới, lễ tốt nghiệp, cả những cuộc thi nhan sắc trong nước và tầm cỡ quốc tế…

Các thí sinh Hoa hậu Thế giới Việt Nam năm 2022 trong trang phục áo dài

Ngoài ra áo dài còn là gương mặt của người Việt trên thế giới, ở những buổi lễ mang tầm quốc gia, những buổi đón tiếp các vị nội các, các vị lãnh đạo cấp cao nước ngoài viếng thăm hay những buổi lễ quốc tế có sự tham gia của người Việt đều không thể thiếu tà áo dài.

*Áo dài truyền thống mang đậm ý nghĩa gia đình

Mỗi gia đình là mỗi xã hội thu nhỏ, họ có phong cách sống, một số phong tục tư gia khác nhau. Nhưng có một điểm đã là người Việt thì không thể thiếu đó là chiếc áo dài ngày tết. Áo dài luôn là biểu tượng thể hiện không khí vui tươi, sự đoàn viên sum vầy của các gia đình Việt vào những dịp đặc biệt. Ngoài ra ý nghĩa “gia đình” của chiếc áo dài nó không chỉ là “gia đình” theo nghĩa riêng mà là nghĩa chung “gia đình Việt Nam”.

Đặc biệt vào những dịp Lễ, Tết khi bước ra đường ta thấy ai ai cũng thướt tha trong tà áo dài mới phấp phới trên phố nó làm cho ta cứ ngỡ tất cả chúng ta là người một nhà, cùng một tư duy sống. Hàng triệu người Việt hòa vào một qua tà áo dài Việt Nam.

Áo dài ngày Tết Việt Nam

Không phải tự nhiên mà những tà áo dài được các gia đình Việt nâng niu, ưu ái lựa chọn cho những sự kiện quan trọng của gia đình là vì chiếc áo dài không chỉ mang vẻ ngoài duyên dáng, thanh lịch, chỉ chu mà áo dài còn có những ý nghĩa sâu sắc về văn hóa, về truyền thống, về chiều dài dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

*Lan tỏa truyền thống văn hóa

Áo dài là đại diện tự hào cho văn hóa, con người đất Việt. Không chỉ có giá trị thẩm mỹ về thời trang mà diện áo dài còn có công dụng là một phương thức để lan tỏa truyền thống văn hóa của người Việt đến với bạn bè thế giới. Không chỉ những du khách đến Việt Nam mới được ngắm chiếc áo dài mà cả những đất nước phương tây xa xôi cũng có sự xuất hiện của những tà áo dài.

Bởi vì “Người Việt Nam ở đâu thì tà áo dài sẽ ở đấy” đã rất nhiều năm trôi qua những kiều bào người Việt tại hải ngoại đã không ngần ngại diện những tà áo dài đặc trưng bản sắc Việt trên phố tây vào những dịp đặc biệt, quan trọng của người Việt ta.

Chính những hành động mạnh mẽ, tự hào, tự tin, trân trọng ý nghĩa của tà áo dài mà người Việt tại hải ngoại đã phần nào quảng bá được truyền thống của người Việt ta thông qua tà áo dài ở nơi “đất khách, quê người”.

Sẽ là không ngoa nếu chúng ta nói áo dài không chỉ là một bộ trang phục mà nó là một bức tranh. Áo dài khắc họa hình ảnh đời sống, con người, văn hóa, truyền thống và cả những thăng trầm trong chiều dài lịch sử Việt. Áo dài có công dụng là một phương tiện quảng bá Việt Nam, ý nghĩa lịch sử Việt ra cộng đồng quốc tế. Hơn thế nó còn là món đồ kỉ niệm, nhắc nhở những người con Việt tại nước ngoài rằng “dù họ là ai, họ đi đâu, họ vẫn là người Việt”. Thấy áo dài là thấy Việt Nam

Áo dài Việt Nam

Mỗi đất nước đều có trang phục truyền thống biểu trưng cho văn hóa của quốc gia mình. Nếu Nhật Bản nổi tiếng với Kimono, Hàn Quốc được biết đến với Hanbok thì Việt Nam lại tự hào với Áo dài. Áo dài không chỉ là trang phục truyền thống mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam.

Ngược dòng thời gian để tìm về với nguồn cội, chiếc áo dài đầu tiên với hai tà áo thướt tha bay lượn đã xuất hiện từ trên ba ngàn năm trước. Đồng hành cùng bước đi của lịch sử, áo dài đã trải qua nhiều kiểu dáng khác nhau. Kiểu sơ khai là áo giao lành, được mặc phủ ngoài yếm đào, váy lụa đen, thắt lưng buông thả. Nhưng để tiện cho việc làm ăn, việc đồng áng, áo giao lành được thu gọn thành áo tứ thân. Rồi từ áo tứ thân lại chuyển thành áo dài cổ kính, ôm sát thân, hai vạt trước được tự do tung bay hài hòa giữa cũ và mới. Trải qua bao năm tháng, áo dài dần được thay đổi và hoàn thiện hơn để phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ và cuộc sống năng động của người phụ nữ ngày nay.

Áo dài có hình dáng thanh lịch, thướt tha. Cổ áo cổ điển là cổ Tàu, cao khoảng 4 đến 5 cm, khoét hình chữ V  nhỏ trước cổ, tôn lên vẻ đẹp của chiếc cổ cao thanh tú của người phụ nữ. Ngay nay, kiểu cổ áo dài được sáng tạo đa dạng như kiểu trái tim, cổ tròn, cổ chữ U,…Thân áo kéo dài từ dưới cổ xuống eo, được may vừa vặn ôm sát lấy người mặc. Cúc áo dài thường là cúc bấm, được cài từ cổ qua vai xuống đến phần eo. Sau này, người ta còn thiết kế ra loại ít cúc hơn, hoặc khóa kéo sau lưng áo. Từ eo, thân áo dài được xẻ làm hai tà là tà trước và tà sau. Áo dài truyền thống có tà dài đến gót chân, áo dài cách tân thì chỉ qua gối. Tay áo may ôm sát cánh tay.

Áo dài thường được mặc với quần thụng thay cho váy đen ngày xưa. Quần áo dài thường được may với vải mềm, rũ. Áo dài được may với nhiều chất liệu khác nhau như: nhung, voan, lụa, gấm… với nhiều màu sắc phong phú. Họa tiết trên áo có thể là hoa, con vật như chim phụng hoàng, bướm… và nhiều hoa văn mang đạm bản sắc dân tộc. Với sự sáng tạo không ngừng của các nhà thiết kế, áo dài có thể mang nhiều hình dáng khác nhau.

Chất liệu làm ra một chiếc áo dài đòi hỏi người mặc cần biết cách bảo quản. Khi gặt áo, chỉ giặt bằng tay, giũ cho áo ráo nước và phơi ngoài nắng nhẹ, tránh nắng gắt vì áo dễ bạc màu. Dùng bàn ủi ủi với nhiệt độ thích hợp tránh quá nóng làm cháy áo. Mặc xong nên giặt áo ngay, treo lên bằng móc áo, nếu gấp phải gấp cẩn thận tránh làm gãy cổ áo.

Trong cuộc sống hiện đại, áo dài không chỉ là trang phục lễ hội truyền thống, là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam mà còn trở thành trang phục công sở cho nhiều ngành nghề như tiếp viên hàng không, nữ giáo viên, nữ nhân viên ngân hàng,… Áo dài trắng là biểu tượng tinh khôi của nữ sinh Việt Nam. Áo dài đỏ cung vui trong ngày lễ ăn hỏi, thành hôn của cặp trai tài gái sắc. Mỗi dịp xuân về, nhiều gia đình nô nức chuẩn bị áo dài cho tất cả các thành viên để cùng đón một cái Tết sum vầy, ý nghĩa. Không chỉ như vậy, ở các cuộc thi sắc đẹp trong nước và quốc tế, các thí sinh đều tự chọn cho mình một chiếc áo dài để dự thi. Bạn bè thế giới biết đến vẻ đẹp Việt Nam gắn liền với chiếc áo dài thướt tha, thanh lịch.

Năm tháng qua đi, nhiều trang phục hiện đại dần phổ biến hơn. Nhưng áo dài vẫn lưu giữ trọn vẹn vẻ đẹp truyền thống dân tộc Việt Nam. Áo dài cùng nón lá chính là nét duyên dáng Việt. Nhìn thấy hình ảnh áo dài, bao trái tim xa quê hương vẫn thổn thức nghĩ về Việt Nam yêu thương xa nhớ.